AsianLII Home | Databases | WorldLII | Search | Feedback

Laws of Vietnam

You are here:  AsianLII >> Databases >> Laws of Vietnam >> Về việc hoàn thành kế hoạch tu bổ đê, kè, cống và chuẩn bị sẵn sàng hộ đê, phòng lụt năm 2000

Database Search | Name Search | Noteup | Help

Về việc hoàn thành kế hoạch tu bổ đê, kè, cống và chuẩn bị sẵn sàng hộ đê, phòng lụt năm 2000

Thuộc tính

Lược đồ

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Số: 53/2000/CT-BNNPTNT/PCLB
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2000                          
bộ nông nghiệp và

CHỈ THỊ CỦA BỘ TRƯỞNG

BỘ NÔNG NGHIỆPVÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Về việc hoàn thành kế hoạch tu bổ đê, kè, cống và chuẩnbị sẵn sàng

hộ đê, phòng lụt năm 2000

 

Những năm qua thiên tai xẩy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trongcả nước và đã gây nên những tổn thất lớn về nhiều mặt, trong đó đê, kè ở nhiềunơi bị hư hỏng. Năm 2000 thời tiết có thể diễn biến phức tạp hơn. Để hạn chếđến mức thấp nhất thiệt hại do mưa, lũ, bão gây ra đối với những vùng được đêbảo vệ, Bộ Nông nghiệp và PTNT yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố có đêtập trung làm tốt một số việc trọng tâm dưới đây:

I- Hoàn thành kế hoạch tư bổ đê điều.

1.UBND các tỉnh, thành phố cần tăng cường kiểm tra, đôn đốc, phát hiện và giảiquyết kịp thời các khó khăn vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ tu bổ đê điều; Nângcao chất lượng thi công, hoàn thành toàn bộ kế hoạch năm 2000 trước thời hạn;thực hiện đúng chế độ, chính sách hiện hành, triệt để tiết kiệm, chống thấtthoát, tham ô lãng phí.

2.Ngoài nguồn vốn do Trung ương đầu tư, UBND các tỉnh, thành phố phải huy độngnguồn lực của địa phương để tu bổ thêm đối với các hạng mục cần thiết khác màTrung ương chưa cân đối được nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các sự cố lớn khicó lũ, bão.

3.Đối với việc duy tu, bảo dưỡng, chống xuống cấp hệ thống đê điều, UBND tỉnh,thành phố chỉ đạo thật chặt chẽ, thực hiện đúng các danh mục đã được Bộ duyệtvà các nội dung hướng dẫn tại Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính và Bộ Nôngnghiệp và PTNT.

4.Những địa phương chưa phân cấp và quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn củaUBND quận, huyện, phường, xã trong việc quản lý, bảo vệ các tuyến đê hiện cótrên địa bàn thì tiến hành ngay và ra văn bản trước ngày 15/5/2000. Địa phươngnào đã có qui định rồi phải tiến hành kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành thựchiện các qui định của Trung ương và địa phương đối với việc quản lý, bảo vệ đêđiều, nhất là đối với cấp phường, xã.

5.Kiểm tra và có biện pháp ngăn chặn ngay các hành vi đào đất, cát gần chân đê,chân kè hoặc xa chân đê nhưng gây sạt lở bờ, yêu cầu UBND tỉnh, thành phố ralệnh đình chỉ ngay và kiên quyết buộc người vi phạm phải khôi phục như nguyêntrạng.

6.Mọi hành vi lấn chiếm đê làm lều quán, chứa vật liệu, hàng hoá hoặc xây dựngcông trình trái phép phải giải toả xong trước ngày 15/5/2000 để không ảnh hưởngviệc kiểm tra đê và hộ đê.

II- Đảm bảo an toàn các cống dưới đê trong mùa mưa, lũ, bão.

1.Tổ chức thực hiện ngay việc kiểm tra, đánh giá chất lượng toàn bộ các cống dướiđê, nhằm phát hiện các cống đã hết thời gian được sử dụng, các cống bị hư hỏngvới mức độ khác nhau để lập kế hoạch sửa chữa hoặc lấp bỏ vĩnh viễn.

2.Những cống, xét thấy không an toàn trong mùa lũ, bão năm 2000 nhất thiết phảicó phương án bảo vệ do UBND tỉnh duyệt (bao gồm phướng án kỹ thật, vật tư, kinhphí và giao trách nhiệm cụ thể cho đơn vị để thực hiện dự án).

3.Những cống xung yếu buộc phải hoành triệt trước mùa lũ, bão 2000 thì ngoài phươngán bảo đảm chống lũ, phải chủ động lập phương án tưới (hoặc tiêu) hỗ trợ đểgiảm bớt mức độ ảnh hưởng do việc phải hoành triệt cống.

4.Việc sử dụng cống dưới đê trong mùa lũ phải chấp hành nghiêm ngặt qui trìnhđóng, mở hiện hành. Những cống chưa có quy trình, Sở Nông nghiệp và PTNT phảixây dựng và báo cáo tỉnh, thành phố duyệt trước mùa lũ, bão để áp dụng ngaytrong năm 2000.

Nhữngcống dưới đê không thuộc hệ thống thủy nông, UBND tỉnh, thành phố giao cho UBNDhuyện, quận chỉ định ngay người trực tiếp quản lý, vận hành và giao cho Sở NN& PTNT lập qui trình vận hành, tổ chức tập huấn cho người quản lý cống nắmvững và thực hiện.

Nhữngcống là công trình đầu mối liên tỉnh, huyện thì Hội đồng quản lý phải có quichế cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị,địa phương trong việc thực hiện phương án bảo vệ, xử lý các tình huống độtxuất, không được để sơ xuất.

III- Chủ động chuẩn bị bẵn sàng Hộ đê trong mùa lũ, bão năm 2000.

1.UBND các tỉnh, thành phố giao cho Sở NN&PTNT phối hợp với các huyện tiếnhành tổng kiểm tra đánh giá chất lượng đê điều. Chú ý phát hiện những hư hỏng,các yếu tố bất lợi có nguy cơ đe doạ an toàn đê điều và đề ra phương án hộ đêphù hợp với điều kiện thực tê của địa phương.

2.Sau khi tổng kiểm tra đánh giá hiện trạng công trình phải xây dựng, duyệt vàsẵn sàng triển khai phương án hộ đê tương ứng với từng tuyến, từng khu vựctrọng điểm theo phương châm: Vật tư, hậu cần, lực lượng và chỉ huy tại chỗ.Phối hợp chặt chẽ với quân khu để bố trí lực lương quân đội đóng trên địa bàn đượcchuẩn bị theo phương án và kế hoạch hộ đê được duyệt.

3.Chuẩn bị sẵn sàng phương án hộ đê trong điều kiện có lũ lớn, lũ cực lớn, đặcbiệt là phương án chống tràn. Các tỉnh, thành phố phải có kế hoạch chi tiếtgiao cho mỗi hộ dân chuẩn bị sẵn ít nhất hai bao tải đất (gồm vỏ bao và đất) đểkhi cần huy động là đáp ứng ngay cho việc cứu hộ đê.

4.Chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng phân lũ, chậm lũ. Đối với các tỉnh nằm trongvùng phân lũ, chậm lũ phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo an toàn chonhân dân vùng phân lũ, chậm lũ, lập kế hoạch chi tiết cho việc di chuyển ngườivà tài sản ra khỏi vùng ảnh hưởng của phân lũ, chậm lũ. Kiểm tra, rà soát và tổchức diễn tập phương án để bổ khuyết kịp thời tránh bị động. Chuẩn bị sẵng sàngcác phương án hộ đê đối với tuyến đê phân lũ vì đây là tuyến đê khô gần 30 nămkhông chịu lũ.

5.Căn cứ phương án hộ đê năm 2000 chuẩn bị đủ số lượng, chủng loại vật tư dự trữhộ đê cho từng tuyến. Ngoài số vật tư dự trữ của Nhà nước hiện có trên địa bàn,cần có kế hoạch huy động vật tư trong nhân dân (kể cả vật tư, thiết bị của cácdoanh nghiệp, cơ quan và lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn). Đối với nhữngđoạn đê xung yếu phải chuẩn bị đủ đất dự trữ cùng với số lượng bao tải tươngứng và phương tiện vận tải thích hợp, không được để xảy ra tình trạng bị độngtrong mùa lũ. Những đoạn đê đang bị dòng chảy tác động gây xói lở bờ, những nơixa dân cư, giao thông khó khăn đều phải có phương án xử lý kịp thời.

6.Đối với các tuyến đê bối chỉ giữ với mức nhỏ hơn hoặc bằng báo động II theo quiđịnh, nếu lũ trên mức báo động II các địa phương phải có kế hoạch sơ tán dânsống trong vùng bối và chủ động cho nước vào bối để không xảy ra vỡ bối độtngột và tránh tình trạng vì lợi ích cục bộ của vùng bối làm ảnh hưởng tới thoátlũ của sông và đe dọa an toàn của đê chính.

7.Trước ngày lũ tiểu mãn năm 2000, phải chỉ đạo, tổ chức diễn tập phương án hộ đêđể kiểm tra việc chuẩn bị vật tư, lực lượng, phương tiện, kỹ thuật, chỉ huy vàthông tin hai chiều; bổ khuyết kịp thời những thiếu sót, tồn tại. Tập huấnnghiệp vụ cho các lực lượng tham gia hộ đê đặc biệt lực lượng quân đội được bốtrí trên địa bàn xong trước ngày 30/5/2000. Giao Sở NN&PTNT phối hợp vớicác lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn tổ chức tập huấn kỹ thuật hộ đê cholực lượng vũ trang như nội dung của Thông báo số 164 TB/TW ngày 3/9/1998 thôngbáo ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị.

UBNDcác tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện những nội dung nêu trên và báo các kếtquả về Bộ Nông nghiệp và PTNT./.

 


AsianLII: Copyright Policy | Disclaimers | Privacy Policy | Feedback
URL: http://www.asianlii.org/vie/vn/legis/laws/vvhtkhtbkcvcbsshpln2000478